Thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên muốn bán phần vốn góp của mình thì phải chào bán cho các thành viên còn lại trước, theo tỷ lệ phần vốn góp của họ và với cùng điều kiện; chỉ khi các thành viên này không mua hoặc mua không hết trong thời hạn luật định, người bán mới được chuyển nhượng phần còn lại cho người ngoài, cũng với điều kiện không thuận lợi hơn đã chào cho thành viên.
Quy tắc này phản ánh tính chất "đóng" của công ty TNHH: đây là loại hình dựa nhiều vào sự tin cậy giữa những người góp vốn, nên luật cho các thành viên hiện hữu quyền chặn người lạ vào bằng cách tự mua. Sau khi giao dịch hoàn tất, người nhận chỉ trở thành thành viên khi thông tin được ghi vào sổ đăng ký thành viên, và công ty phải đăng ký thay đổi với cơ quan đăng ký kinh doanh.
Bài này đi qua quy trình, cách định giá, những điểm phải có trong hợp đồng và các lỗi khiến chuyển nhượng bị tranh chấp. Mọi thời hạn, thuế suất và hồ sơ cụ thể cần đối chiếu Luật Doanh nghiệp, luật thuế thu nhập hiện hành và hướng dẫn của cơ quan đăng ký kinh doanh.
Vì sao công ty TNHH hạn chế chuyển nhượng còn công ty cổ phần thì không
Luật doanh nghiệp các nước phân biệt hai kiểu công ty theo mức độ "mở" của vốn. Công ty cổ phần được thiết kế để vốn lưu chuyển: cổ phần về nguyên tắc tự do chuyển nhượng, ai mua cũng được, trừ những hạn chế cụ thể. Công ty TNHH, giống mô hình GmbH của Đức hay SARL của Pháp, được thiết kế cho một nhóm nhỏ người góp vốn biết rõ nhau, nên quyền kiểm soát ai được vào nhóm được đặt lên trên tính thanh khoản.
Hệ quả thực tế là phần vốn góp trong công ty TNHH khó bán hơn cổ phần. Người mua bên ngoài biết rằng giao dịch có thể bị thành viên khác "cướp" bằng quyền ưu tiên, nên ít ai bỏ công thẩm định. Điều này cũng giải thích vì sao khi định giá phần vốn góp thiểu số trong công ty TNHH, các chuyên gia thường áp dụng chiết khấu do thiếu thanh khoản.
Ngược lại, quyền ưu tiên mua là công cụ bảo vệ hữu hiệu cho thành viên ở lại. Nó ngăn một thành viên bất mãn bán phần vốn cho đối thủ cạnh tranh hoặc cho người mà các thành viên khác không muốn làm việc cùng. Hiểu được cả hai mặt giúp các bên thiết kế điều lệ phù hợp: có công ty muốn chặt hơn luật bằng cách thêm điều kiện phải được hội đồng thành viên chấp thuận; có công ty lại muốn nới bớt cho thành viên dễ thoát.
Quy trình chuyển nhượng phần vốn góp từng bước
Trình tự dưới đây là khung thực hành an toàn cho công ty TNHH hai thành viên trở lên. Điều lệ có thể quy định thêm thủ tục; khi điều lệ chặt hơn luật thì làm theo điều lệ.
- Đọc điều lệ và các thoả thuận giữa thành viên. Tìm điều khoản về chuyển nhượng, quyền ưu tiên, điều kiện chấp thuận, phương pháp định giá, và các cam kết như không cạnh tranh hay khoá chuyển nhượng.
- Gửi chào bán bằng văn bản cho từng thành viên còn lại. Nêu rõ phần vốn bán, giá, phương thức và thời hạn thanh toán, các điều kiện khác. Gửi bằng phương thức có bằng chứng nhận được. Đây là tài liệu sẽ được soi kỹ nhất nếu tranh chấp.
- Chờ hết thời hạn trả lời. Các thành viên có quyền mua theo tỷ lệ phần vốn góp hiện có. Ghi nhận bằng văn bản ai mua, ai từ chối. Thành viên im lặng đến hết hạn thường được coi là không mua, nhưng có văn bản từ chối rõ ràng vẫn an toàn hơn.
- Chào cho người ngoài với điều kiện không thuận lợi hơn. Nếu còn phần vốn chưa bán, người bán được bán cho người ngoài, nhưng không được giảm giá hay nới điều kiện so với lời chào cho thành viên. Muốn hạ giá thì phải chào lại cho thành viên.
- Ký hợp đồng chuyển nhượng và thanh toán. Hợp đồng ghi rõ phần vốn, giá, thanh toán, thời điểm chuyển giao quyền, cam đoan và bảo đảm của bên bán.
- Công ty ghi sổ đăng ký thành viên và cấp giấy chứng nhận. Người nhận trở thành thành viên từ thời điểm này.
- Kê khai thuế và đăng ký thay đổi. Bên chuyển nhượng hoặc công ty kê khai thuế theo quy định; công ty đăng ký thay đổi thành viên với cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn luật định.
Nếu bên mua là người ngoài và việc vào công ty làm thay đổi số thành viên vượt giới hạn của công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty phải chuyển đổi loại hình. Nếu sau chuyển nhượng chỉ còn một thành viên, công ty phải chuyển sang TNHH một thành viên trong thời hạn luật định.
Định giá phần vốn góp: giá ghi trên hợp đồng và giá thật
Phần vốn góp có ba con số dễ bị nhầm: giá trị danh nghĩa (số vốn đã góp ghi trong sổ), giá trị sổ sách (tỷ lệ phần vốn nhân với vốn chủ sở hữu trên báo cáo tài chính) và giá trị thị trường (số tiền một người mua tự nguyện, hiểu biết sẵn sàng trả). Ba con số này có thể chênh nhau rất xa.
Ở công ty làm ăn tốt nhiều năm, giá trị thị trường thường cao hơn hẳn giá trị danh nghĩa. Ở công ty thua lỗ, giá trị sổ sách có thể thấp hơn danh nghĩa, thậm chí âm. Người mua chuyên nghiệp sẽ định giá dựa trên dòng tiền tương lai, tài sản ròng điều chỉnh và các giao dịch tương tự, rồi áp dụng chiết khấu nếu phần vốn là thiểu số và khó bán lại.
Một thói quen nguy hiểm là ghi giá trên hợp đồng bằng giá trị danh nghĩa trong khi tiền trả thật cao hơn, với mục đích giảm thuế. Ngoài rủi ro vi phạm pháp luật thuế, cách làm này để lại hai mối hoạ: cơ quan thuế có quyền ấn định giá chuyển nhượng khi giá kê khai không phù hợp giá thị trường; và nếu sau này tranh chấp, hợp đồng ghi giá thấp chính là chứng cứ chống lại bên đã trả tiền nhiều hơn.
Khi thành viên không thống nhất được giá, cách tốt nhất là điều lệ hoặc thoả thuận thành viên đã viết sẵn phương pháp định giá: ví dụ dùng một tổ chức thẩm định giá độc lập do hai bên cùng chọn, hoặc lấy trung bình hai báo cáo thẩm định của hai bên. Không có cơ chế này, tranh chấp về giá có thể kéo dài nhiều năm.
Những điều khoản hợp đồng chuyển nhượng nên có
Nhiều hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp chỉ dài một trang theo mẫu, đủ để nộp hồ sơ nhưng không đủ để bảo vệ bên mua. Với giao dịch có giá trị, các điều khoản sau là tối thiểu:
- Mô tả phần vốn: giá trị danh nghĩa, tỷ lệ, tình trạng đã góp đủ hay chưa, có đang bị cầm cố, phong toả hay tranh chấp không.
- Giá và cơ chế điều chỉnh giá: giá cố định, hay điều chỉnh theo vốn lưu động, nợ ròng tại ngày chốt.
- Lịch thanh toán gắn với điều kiện: ví dụ một phần khi ký, phần còn lại khi công ty hoàn tất đăng ký thay đổi thành viên.
- Cam đoan và bảo đảm của bên bán: về tình trạng pháp lý, báo cáo tài chính, nghĩa vụ thuế, tranh chấp, hợp đồng lớn của công ty.
- Bồi hoàn: bên bán chịu trách nhiệm với các khoản nợ, phạt phát sinh từ trước ngày chuyển nhượng mà không được công bố.
- Văn bản từ chối quyền ưu tiên của các thành viên khác đính kèm làm phụ lục.
- Cam kết không cạnh tranh, không lôi kéo nhân sự của bên bán trong một thời gian hợp lý, nếu bên bán từng là người điều hành.
- Luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp: toà án hay trọng tài thương mại.
Phần cam đoan và bồi hoàn thường bị bỏ qua trong các giao dịch giữa người quen, nhưng đây chính là chỗ bên mua mất tiền nhiều nhất: mua phần vốn rồi mới phát hiện công ty nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội từ mấy năm trước.
Thuế và chi phí khi chuyển nhượng
Cá nhân chuyển nhượng phần vốn góp. Thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân. Cách tính đối với phần vốn góp trong công ty TNHH khác với cách tính đối với chứng khoán, và quy định có thể được sửa đổi; hãy kiểm văn bản hiện hành về căn cứ tính thuế, giá vốn được trừ và hồ sơ chứng minh.
Tổ chức chuyển nhượng phần vốn góp. Khoản lãi từ chuyển nhượng vốn được tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp của tổ chức bán. Bên bán là tổ chức nước ngoài thì có nghĩa vụ kê khai riêng, và công ty Việt Nam có phần vốn được chuyển nhượng thường có vai trò trong việc kê khai thay hoặc thông báo.
Giữ chứng từ giá vốn. Để được trừ giá vốn khi tính thuế, người bán cần chứng minh mình đã góp hoặc đã mua phần vốn với giá bao nhiêu. Chứng từ chuyển khoản góp vốn từ nhiều năm trước, hợp đồng mua lại từ người khác là tài liệu cần lưu giữ cẩn thận.
Thứ tự thuế trước, đăng ký sau. Trên thực tế, cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan thuế có thể yêu cầu hoàn tất nghĩa vụ thuế chuyển nhượng trước khi thay đổi thông tin thành viên được ghi nhận. Nên tính thời gian này vào lịch giao dịch.
Các lỗi khiến chuyển nhượng bị tranh chấp hoặc vô hiệu
Không chào bán cho thành viên còn lại. Đây là lỗi kinh điển. Thành viên bị bỏ qua có thể yêu cầu toà án hoặc trọng tài tuyên giao dịch vô hiệu hoặc buộc công ty không ghi nhận người mua. Rủi ro này đặc biệt cao khi thành viên còn lại đang mâu thuẫn với người bán.
Chào thành viên một giá, bán người ngoài giá thấp hơn. Vi phạm điều kiện "không thuận lợi hơn". Thủ thuật hay gặp là giữ giá danh nghĩa nhưng cho người ngoài trả chậm không lãi, hoặc kèm một hợp đồng phụ có lợi cho người mua.
Chuyển nhượng phần vốn chưa góp đủ. Người bán chỉ có quyền với phần đã góp. Bán phần chưa góp là bán thứ mình chưa có, và người mua có thể không được công nhận đầy đủ tỷ lệ mong đợi.
Phần vốn là tài sản chung vợ chồng. Nếu phần vốn hình thành trong thời kỳ hôn nhân, việc chuyển nhượng có thể cần sự đồng ý của người vợ hoặc chồng. Thiếu sự đồng ý này, giao dịch có nguy cơ bị yêu cầu tuyên vô hiệu sau này.
Nhận tiền nhưng công ty không ghi sổ. Người mua đã trả tiền nhưng công ty, do người đại diện theo pháp luật đứng về phía khác, không ghi sổ và không đăng ký thay đổi. Hợp đồng cần quy định nghĩa vụ phối hợp của bên bán và cơ chế giữ một phần tiền cho tới khi đăng ký xong.
Câu hỏi thường gặp
Thành viên có thể tặng cho phần vốn góp không cần chào bán không?
Tặng cho không phải là bán nên không có giá để chào, nhưng luật có quy định riêng về đối tượng nhận tặng cho. Tặng cho người thân trong phạm vi luật định thì người nhận đương nhiên trở thành thành viên; tặng cho người khác thì người nhận chỉ trở thành thành viên khi được hội đồng thành viên chấp thuận. Nên kiểm điều lệ và văn bản hiện hành trước khi làm.
Có thể dùng phần vốn góp để trả nợ cho người khác không?
Luật cho phép thành viên dùng phần vốn góp để trả nợ, và người nhận thanh toán có thể trở thành thành viên nếu được hội đồng thành viên chấp thuận, hoặc chào bán, chuyển nhượng phần vốn đó theo quy định. Nếu không, họ chỉ có quyền tài sản với phần vốn chứ chưa có quyền thành viên đầy đủ.
Điều lệ có thể cấm hoàn toàn việc chuyển nhượng phần vốn không?
Một điều khoản cấm tuyệt đối dễ bị coi là trái nguyên tắc tự do định đoạt tài sản và có thể không được công nhận. Cách phổ biến hơn là đặt thêm điều kiện: cần hội đồng thành viên chấp thuận, cấm bán cho đối thủ, hoặc khoá chuyển nhượng trong một thời gian đầu. Các điều khoản này cần soạn cẩn thận để có hiệu lực.
Mua phần vốn góp rồi có phải góp thêm vốn không?
Không, nếu phần vốn đã được góp đủ. Người mua chỉ thay chỗ người bán với các quyền và nghĩa vụ gắn với phần vốn đó. Nhưng nếu phần vốn chưa góp đủ, nghĩa vụ góp phần còn thiếu có thể chuyển sang người mua tuỳ thoả thuận. Đây là lý do cần cam đoan rõ tình trạng góp vốn trong hợp đồng.
Người nước ngoài mua phần vốn góp có thủ tục gì thêm?
Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua phần vốn góp vào công ty Việt Nam có thể phải đăng ký với cơ quan đăng ký đầu tư trước, đặc biệt khi ngành nghề có điều kiện tiếp cận thị trường hoặc tỷ lệ sở hữu nước ngoài vượt ngưỡng nhất định. Thanh toán phải qua tài khoản vốn đầu tư trực tiếp. Cần kiểm danh mục ngành nghề và quy định đầu tư hiện hành.
Chuyển nhượng xong bao lâu thì người mua có quyền biểu quyết?
Người mua có quyền thành viên, bao gồm quyền biểu quyết và nhận lợi nhuận, từ thời điểm thông tin về họ được ghi vào sổ đăng ký thành viên. Đăng ký thay đổi với cơ quan nhà nước là nghĩa vụ công khai thông tin, không phải điều kiện phát sinh quyền. Vì vậy bên mua nên yêu cầu công ty ghi sổ ngay khi thanh toán.