Tăng vốn điều lệ là việc công ty nâng tổng giá trị vốn mà các thành viên, cổ đông cam kết góp và đăng ký thay đổi con số đó với cơ quan đăng ký kinh doanh. Với công ty đang hoạt động, vốn có thể tăng theo hai hướng rất khác nhau: tiền mới thật sự đi vào công ty (thành viên góp thêm, cổ đông mua cổ phần mới, nhà đầu tư mới vào), hoặc chỉ là chuyển khoản mục trong vốn chủ sở hữu (lấy lợi nhuận giữ lại, thặng dư vốn để phát hành cổ phần thưởng). Hướng thứ nhất làm công ty có thêm tiền; hướng thứ hai chỉ làm con số vốn điều lệ to hơn.
Quy trình chung gồm: cơ quan có thẩm quyền (hội đồng thành viên, chủ sở hữu hoặc đại hội đồng cổ đông, tuỳ trường hợp) thông qua phương án; thực hiện góp vốn hoặc phát hành; cập nhật sổ đăng ký thành viên hoặc sổ đăng ký cổ đông; rồi thông báo, đăng ký thay đổi với cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn luật định. Điểm khó không nằm ở hồ sơ mà ở giá phát hành và quyền ưu tiên: hai thứ quyết định sau đợt tăng vốn ai giữ bao nhiêu phần trăm và ai bị thiệt.
Bài này viết cho chủ doanh nghiệp và người làm pháp chế, tài chính ở công ty đã chạy vài năm. Phần vốn điều lệ ban đầu nên đăng ký bao nhiêu thuộc giai đoạn thành lập, không bàn lại ở đây. Quy định cụ thể về thời hạn, mẫu hồ sơ và điều kiện chào bán có thể thay đổi, nên đối chiếu Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán hiện hành và cổng đăng ký doanh nghiệp quốc gia trước khi làm.
Tăng vốn điều lệ khác gì việc công ty có thêm tiền
Vốn điều lệ là con số pháp lý: tổng giá trị phần vốn góp hoặc mệnh giá cổ phần đã bán. Nó là thước đo để chia quyền biểu quyết, chia lợi nhuận và là giới hạn trách nhiệm của thành viên, cổ đông. Nó không phải là số tiền công ty đang có trong tài khoản. Một công ty có vốn điều lệ lớn vẫn có thể cạn tiền, và ngược lại một công ty vốn điều lệ nhỏ vẫn có thể giàu lợi nhuận giữ lại.
Vì vậy trước khi bàn thủ tục, ban điều hành nên trả lời câu hỏi kinh tế: công ty cần tiền hay cần con số vốn điều lệ? Cần tiền để mở nhà xưởng, trả nợ, bổ sung vốn lưu động thì phải có người bỏ tiền mới vào. Cần con số vốn điều lệ cao hơn để đáp ứng điều kiện ngành nghề có vốn pháp định, điều kiện dự thầu, hồ sơ năng lực hoặc chuẩn bị đại chúng hoá thì có thể dùng nguồn nội bộ như lợi nhuận chưa phân phối.
Hai mục đích dẫn đến hai cấu trúc khác nhau. Phát hành cổ phần thưởng từ lợi nhuận giữ lại không làm tổng vốn chủ sở hữu thay đổi một đồng nào; nó chỉ chuyển từ dòng "lợi nhuận sau thuế chưa phân phối" sang dòng "vốn góp của chủ sở hữu". Ngược lại, chào bán cổ phần cho nhà đầu tư mới làm vốn chủ sở hữu tăng thật, nhưng kéo theo pha loãng tỷ lệ của người cũ nếu họ không mua thêm. Nhầm lẫn giữa hai thứ này là nguồn gốc của nhiều cuộc họp cổ đông căng thẳng.
Công ty TNHH tăng vốn bằng những cách nào
Thành viên hiện hữu góp thêm. Trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, phần vốn tăng thêm về nguyên tắc được chia cho các thành viên theo tỷ lệ phần vốn góp hiện có. Thành viên nào không góp hoặc chỉ góp một phần thì phần còn lại có thể được các thành viên khác góp tiếp theo tỷ lệ, trừ khi các bên thoả thuận khác. Đây là cơ chế giữ nguyên cán cân quyền lực nếu mọi người cùng góp.
Tiếp nhận thành viên mới. Khi cần một đối tác chiến lược hoặc nhà đầu tư, công ty tiếp nhận người mới góp vốn. Việc này cần hội đồng thành viên thông qua với tỷ lệ biểu quyết theo luật và điều lệ, và trên thực tế nên đi kèm một thoả thuận đầu tư quy định giá, tiến độ góp và quyền của người mới. Số thành viên tăng có thể buộc công ty xem lại loại hình nếu vượt giới hạn của công ty TNHH.
Chủ sở hữu công ty một thành viên góp thêm. Với công ty TNHH một thành viên, chủ sở hữu tự quyết định góp thêm vốn. Nếu tăng vốn bằng cách nhận thêm người góp vốn, công ty phải chuyển sang loại hình hai thành viên trở lên hoặc cổ phần, kèm thủ tục chuyển đổi loại hình.
Chuyển lợi nhuận giữ lại thành vốn. Thành viên có thể quyết định không rút lợi nhuận được chia mà ghi tăng vốn góp. Về bản chất kinh tế, đây là chia lợi nhuận rồi góp lại, nên cần xem xét nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân đối với phần lợi nhuận chuyển thành vốn theo quy định hiện hành, đừng mặc định là không phát sinh thuế.
Chuyển nợ thành vốn góp. Khoản thành viên hoặc chủ nợ cho công ty vay có thể được chuyển thành phần vốn góp nếu các bên đồng ý. Cách này làm giảm nợ phải trả, tăng vốn chủ sở hữu, nhưng cần định giá khoản nợ và ghi nhận đúng để tránh tranh chấp sau này về tỷ lệ sở hữu.
Công ty cổ phần: các nguồn tăng vốn và hệ quả với cổ đông hiện hữu
Công ty cổ phần có nhiều công cụ hơn, và mỗi công cụ tác động khác nhau lên tỷ lệ sở hữu của cổ đông đang có. Bảng dưới so sánh các hình thức hay gặp ở công ty chưa niêm yết; với công ty đại chúng còn thêm các yêu cầu đăng ký, báo cáo với cơ quan quản lý chứng khoán.
| Hình thức | Tiền mới vào công ty? | Tác động tỷ lệ sở hữu | Điểm cần lưu ý |
|---|---|---|---|
| Chào bán cho cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ | Có | Giữ nguyên nếu mọi người mua đủ phần mình | Phải thông báo đủ thời gian để cổ đông thực hiện quyền; quyền mua có thể được chuyển nhượng |
| Chào bán cổ phần riêng lẻ cho nhà đầu tư chọn trước | Có | Pha loãng cổ đông cũ | Giá chào bán là trọng tâm; có thể bị hạn chế chuyển nhượng một thời gian theo quy định |
| Phát hành cổ phần trả cổ tức | Không | Giữ nguyên tỷ lệ, mỗi người có thêm cổ phần | Chỉ làm được khi đủ điều kiện chia cổ tức; tiền mặt vẫn ở lại công ty |
| Phát hành cổ phần thưởng từ vốn chủ sở hữu | Không | Giữ nguyên tỷ lệ | Nguồn phát hành phải có thật trên báo cáo tài chính đã kiểm toán hoặc soát xét khi luật yêu cầu |
| Chuyển đổi trái phiếu, khoản vay thành cổ phần | Không có tiền mới, nhưng giảm nợ | Pha loãng cổ đông cũ | Tỷ lệ chuyển đổi phải được quyết định từ trước |
| Phát hành cho người lao động (ESOP) | Có, thường ở giá ưu đãi | Pha loãng nhỏ | Cần chương trình được đại hội đồng cổ đông thông qua |
Một nguyên tắc đáng nhớ: chào bán cho cổ đông hiện hữu theo tỷ lệ là cách "trung tính" nhất về quyền lực. Mọi hình thức khiến một nhóm mua được cổ phần mới mà nhóm khác không được mua đều chạm vào lợi ích của cổ đông thiểu số, nên cần lý do kinh doanh rõ ràng, giá hợp lý và biên bản ghi lại cách tính giá.
Quy trình tăng vốn điều lệ từng bước
Trình tự dưới đây là khung chung cho công ty cổ phần chưa đại chúng; công ty TNHH đi theo logic tương tự với hội đồng thành viên thay cho đại hội đồng cổ đông. Thời hạn cụ thể và mẫu biểu cần đối chiếu văn bản hiện hành.
- Xác định nhu cầu và lập phương án. Ghi rõ số tiền cần, mục đích sử dụng, thời điểm cần tiền, nguồn tăng vốn, giá chào bán dự kiến và tác động lên cơ cấu sở hữu. Phương án tốt có bảng cơ cấu cổ đông trước và sau.
- Hội đồng quản trị trình phương án. Chào bán cổ phần trong số cổ phần được quyền chào bán có thể thuộc thẩm quyền hội đồng quản trị; tăng tổng số cổ phần được quyền chào bán, sửa vốn điều lệ trong điều lệ thì thường phải qua đại hội đồng cổ đông. Kiểm điều lệ công ty để biết ranh giới thẩm quyền.
- Đại hội đồng cổ đông thông qua. Nghị quyết nêu loại cổ phần, số lượng, đối tượng, giá hoặc nguyên tắc xác định giá, và uỷ quyền cho hội đồng quản trị triển khai.
- Thông báo và thực hiện quyền mua. Với chào bán cho cổ đông hiện hữu, gửi thông báo bằng phương thức bảo đảm đến từng cổ đông, nêu thời hạn đăng ký mua. Phần cổ đông không mua hết được xử lý theo nghị quyết.
- Thu tiền qua tài khoản ngân hàng. Tiền mua cổ phần nên đi qua tài khoản công ty, có chứng từ đối chiếu từng cổ đông. Góp bằng tài sản thì cần định giá và chuyển quyền sở hữu tài sản cho công ty.
- Cập nhật sổ đăng ký cổ đông, cấp cổ phiếu hoặc xác nhận sở hữu. Quyền cổ đông của người mua mới phát sinh từ thời điểm thông tin được ghi vào sổ.
- Đăng ký thay đổi vốn điều lệ. Nộp hồ sơ tới cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn luật định sau khi hoàn tất đợt tăng vốn; đồng thời cập nhật điều lệ và kê khai thuế môn bài nếu bậc thuế thay đổi theo vốn.
Thứ tự này quan trọng: nhiều công ty nộp hồ sơ tăng vốn trước rồi mới thu tiền, đến khi cổ đông không góp đủ thì phải làm thêm thủ tục giảm vốn, vừa tốn công vừa để lại vết xấu trong lịch sử đăng ký.
Giá chào bán: chỗ quyết định ai được lợi sau đợt tăng vốn
Mệnh giá cổ phần ở Việt Nam thường là mười nghìn đồng, nhưng mệnh giá gần như không nói gì về giá trị. Nếu công ty đã tích luỹ lợi nhuận và tài sản, giá trị sổ sách mỗi cổ phần có thể cao hơn mệnh giá nhiều lần. Bán cổ phần mới cho người ngoài ở mệnh giá lúc đó là chuyển một phần giá trị của cổ đông cũ sang người mới.
Ví dụ giả định: công ty có 1 triệu cổ phần, vốn chủ sở hữu 30 tỷ đồng, tức khoảng 30 nghìn đồng mỗi cổ phần theo sổ sách. Công ty bán thêm 500 nghìn cổ phần cho một nhà đầu tư ở mệnh giá, thu 5 tỷ. Sau đợt bán, vốn chủ sở hữu là 35 tỷ cho 1,5 triệu cổ phần, khoảng 23,3 nghìn đồng mỗi cổ phần. Cổ đông cũ mất khoảng 6,7 nghìn đồng giá trị trên mỗi cổ phần, nhà đầu tư mới bỏ 10 nghìn mà nhận phần giá trị hơn 23 nghìn. Không ai vi phạm thủ tục, nhưng cổ đông cũ đã bị chuyển giá trị.
Vì vậy, giá chào bán nên dựa trên một cơ sở có thể giải thích: giá trị sổ sách, kết quả thẩm định giá độc lập, hoặc giá của giao dịch gần nhất với bên không liên quan. Khi bán cho người có liên quan đến thành viên hội đồng quản trị hoặc cổ đông lớn ở giá thấp, đó là giao dịch có xung đột lợi ích, cần quy trình phê duyệt riêng và là nguồn khởi kiện phổ biến của cổ đông thiểu số.
Mặt khác, giá cao quá khiến không ai mua, đợt tăng vốn thất bại và công ty vẫn thiếu tiền. Cách dung hoà hay dùng là chào bán cho cổ đông hiện hữu trước ở giá ưu đãi hơn, phần còn lại mới chào cho nhà đầu tư bên ngoài ở giá không thấp hơn giá dành cho cổ đông cũ.
Những sai lầm hay gặp khi tăng vốn
Tăng vốn "trên giấy" mà không có tiền thật. Đăng ký vốn điều lệ cao để đẹp hồ sơ nhưng thành viên không góp đủ là rủi ro kép: thành viên chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn đã cam kết, và khi công ty mất khả năng thanh toán, chủ nợ có thể đòi phần vốn cam kết chưa góp. Ngoài ra công ty còn phải làm thủ tục điều chỉnh vốn về đúng số đã góp.
Bỏ qua quyền ưu tiên mua của cổ đông hiện hữu. Chào bán riêng lẻ cho người ngoài mà không có nghị quyết hợp lệ, hoặc nghị quyết không giải thích lý do, dễ bị cổ đông yêu cầu toà án hoặc trọng tài huỷ. Khi điều lệ hoặc thoả thuận cổ đông có điều khoản chống pha loãng, việc bỏ qua còn là vi phạm hợp đồng.
Thu tiền mặt, không qua ngân hàng. Tiền góp vốn bằng tiền mặt khó chứng minh, dễ bị cơ quan thuế và kiểm toán nghi ngờ, và khi tranh chấp thì người góp khó chứng minh mình đã góp. Mọi khoản góp vốn nên có chứng từ chuyển khoản ghi rõ nội dung.
Góp bằng tài sản mà không định giá đúng. Định giá tài sản góp cao hơn giá trị thật làm các thành viên góp tiền bị thiệt. Luật quy định trách nhiệm liên đới của người định giá khi định giá cao hơn thực tế; nên dùng tổ chức thẩm định giá độc lập cho tài sản giá trị lớn.
Không cập nhật các hồ sơ đi kèm. Sau tăng vốn, điều lệ, sổ đăng ký, giấy chứng nhận phần vốn góp hoặc cổ phiếu, hồ sơ với ngân hàng và các giấy phép con có ghi vốn đều cần cập nhật. Bỏ sót dễ gây lệch thông tin khi vay vốn hoặc khi có thương vụ mua bán sau này.
Khi nào không nên tăng vốn điều lệ
Tăng vốn điều lệ không phải cách duy nhất để đưa tiền vào công ty. Khi nhu cầu là tạm thời, chẳng hạn bù vốn lưu động mùa cao điểm, khoản vay từ thành viên hoặc vay ngân hàng có thể hợp lý hơn: tiền hoàn trả được khi công ty dư, không làm thay đổi cơ cấu quyền lực, và lãi vay hợp lý có thể được tính vào chi phí theo quy định thuế hiện hành. Ngược lại, vốn đã góp thì rất khó rút ra, vì giảm vốn bị luật đặt nhiều điều kiện để bảo vệ chủ nợ.
Khi các thành viên đang bất đồng sâu, đợt tăng vốn dễ biến thành công cụ đấu đá: nhóm có tiền dùng tăng vốn để pha loãng nhóm không có tiền. Trong tình huống đó, nên giải quyết bất đồng trước, có thể bằng thoả thuận mua lại phần vốn của một bên, rồi mới tính chuyện huy động.
Cuối cùng, nếu công ty sắp có thương vụ gọi vốn lớn, việc tăng vốn nhỏ lẻ ngay trước đó ở giá thấp sẽ tạo ra mốc giá bất lợi trong mắt nhà đầu tư và cơ quan thuế. Hãy nhìn đợt tăng vốn trong cả lộ trình vốn của công ty ba đến năm năm tới, không chỉ là một thủ tục đơn lẻ.
Câu hỏi thường gặp
Tăng vốn điều lệ có phải nộp thuế không?
Bản thân việc góp thêm tiền vào công ty thường không phát sinh thuế thu nhập. Nhưng khi tăng vốn từ lợi nhuận giữ lại, phát hành cổ phần thưởng hay trả cổ tức bằng cổ phần, cá nhân có thể phát sinh nghĩa vụ thuế thu nhập vào thời điểm nhận hoặc khi chuyển nhượng sau này, tuỳ quy định hiện hành. Ngoài ra lệ phí môn bài có thể đổi bậc theo vốn. Nên hỏi kế toán thuế trước khi chọn nguồn tăng vốn.
Công ty đang lỗ có tăng vốn được không?
Được, nếu có người bỏ tiền mới vào. Lỗ lũy kế không cấm chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu hay nhà đầu tư. Điều bị hạn chế là phát hành cổ phần thưởng hoặc trả cổ tức bằng cổ phần, vì các hình thức này cần nguồn vốn chủ sở hữu hoặc lợi nhuận đủ điều kiện. Với công ty lỗ, giá chào bán dưới mệnh giá thường gặp vướng mắc pháp lý, cần kiểm kỹ quy định.
Chào bán riêng lẻ khác chào bán ra công chúng ở điểm nào?
Chào bán riêng lẻ nhắm tới một số ít nhà đầu tư xác định, không quảng cáo rộng rãi, thủ tục nhẹ hơn và thường kèm hạn chế chuyển nhượng trong một thời gian. Chào bán ra công chúng hướng tới số đông nhà đầu tư, phải đăng ký với cơ quan quản lý chứng khoán, có bản cáo bạch và đáp ứng điều kiện về vốn, kết quả kinh doanh. Ranh giới định lượng do luật chứng khoán quy định.
Thành viên không góp thêm khi tăng vốn thì quyền của họ thay đổi thế nào?
Tỷ lệ phần vốn góp của họ giảm tương ứng, kéo theo giảm tỷ lệ biểu quyết và tỷ lệ chia lợi nhuận. Giá trị tuyệt đối phần vốn của họ không mất nếu giá góp thêm phản ánh đúng giá trị công ty; họ chỉ thiệt khi giá góp thêm thấp hơn giá trị thật. Vì vậy thành viên không có tiền góp thường đòi định giá lại công ty trước khi đồng ý tăng vốn.
Có cần thẩm định giá khi chào bán cổ phần riêng lẻ không?
Luật không phải lúc nào cũng bắt buộc, nhưng khi bán cho người có liên quan, khi giá chào bán thấp hơn giá trị sổ sách hoặc khi có cổ đông phản đối, một chứng thư thẩm định giá độc lập là bằng chứng mạnh nhất rằng hội đồng quản trị đã hành động thận trọng. Chi phí thẩm định nhỏ so với rủi ro bị kiện huỷ nghị quyết.
Tăng vốn xong bao lâu phải đăng ký thay đổi?
Luật Doanh nghiệp đặt một thời hạn ngắn tính từ khi hoàn thành việc tăng vốn để thông báo hoặc đăng ký thay đổi với cơ quan đăng ký kinh doanh. Thời hạn và hồ sơ có thể thay đổi theo văn bản hướng dẫn mới, vì vậy nên kiểm trên cổng đăng ký doanh nghiệp quốc gia ngay khi lập kế hoạch, để lịch thu tiền và lịch nộp hồ sơ khớp nhau.