TrungTamDoanhNghiep.comTrung Tâm Doanh Nghiệp
Vận hành xuất sắc

Sơ đồ dòng giá trị (VSM) là gì? Cách vẽ hiện trạng, tương lai và đọc chỉ số

VSM là sơ đồ một trang theo dấu dòng vật tư và thông tin từ đơn hàng tới giao hàng. Ký hiệu, cách vẽ hiện trạng, tính lead time, thiết kế trạng thái tương lai.

Silhouette of two Vietnamese managers walking along a long factory aisle with stacked pallets, seen from behind at low angle, golden afternoon light through high windows, warm ochre tones

Sơ đồ dòng giá trị (value stream map — VSM) là bản vẽ một trang thể hiện toàn bộ dòng vật tư và dòng thông tin cần để đưa một họ sản phẩm từ lúc nhận đơn tới lúc giao cho khách, kèm số liệu ở từng công đoạn và một đường thời gian so sánh thời gian tạo giá trị với tổng thời gian chờ. Mục đích của nó là nhìn thấy hệ thống, không phải tối ưu một máy.

Điều thường gây bất ngờ khi vẽ VSM lần đầu là tỷ lệ: một sản phẩm có tổng thời gian gia công vài phút nhưng nằm trong nhà máy vài tuần, phần lớn là nằm chờ trong kho bán thành phẩm. Bài này trình bày ký hiệu, cách vẽ hiện trạng, cách đọc chỉ số bằng định luật Little, và các câu hỏi để thiết kế trạng thái tương lai.

VSM khác sơ đồ quy trình ở chỗ nào

Kỹ thuật vẽ dòng vật tư và thông tin đã được dùng nội bộ ở Toyota từ lâu dưới tên gọi sơ đồ dòng vật tư và thông tin. Mike Rother và John Shook hệ thống hoá thành phương pháp chuẩn trong cuốn Learning to See (Lean Enterprise Institute, 1998), và từ đó VSM trở thành công cụ phổ biến nhất để bắt đầu một chương trình cải tiến dòng chảy.

Sơ đồ quy trình thông thường (lưu đồ, BPMN) mô tả trình tự các bước và nhánh quyết định, thường chi tiết tới từng thao tác của một quy trình. VSM khác ở ba điểm. Một, nó ở mức tổng thể: mỗi hộp là một công đoạn có dòng chảy liên tục, cả nhà máy thường chỉ vài đến hơn chục hộp. Hai, nó vẽ cả dòng thông tin: dự báo, đơn hàng, lịch sản xuất đi từ đâu tới đâu, công đoạn nào được báo phải làm gì. Ba, nó gắn số liệu thời gian và tồn kho vào từng điểm, để thấy chờ ở đâu và bao lâu.

Điểm cốt lõi khác là VSM vẽ theo một họ sản phẩm, tức nhóm sản phẩm đi qua các công đoạn và thiết bị tương tự nhau. Vẽ cho “toàn nhà máy” với mọi sản phẩm sẽ ra một mớ đường chồng chéo không đọc được. Cách chọn họ sản phẩm phổ biến là lập ma trận sản phẩm và công đoạn, gom những sản phẩm có lộ trình giống nhau, rồi chọn họ có doanh thu lớn hoặc vấn đề giao hàng rõ nhất để vẽ trước.

Ký hiệu và dữ liệu cần thu thập

VSM có bộ ký hiệu khá thống nhất. Điều quan trọng hơn ký hiệu là dữ liệu đi kèm, vì không có số thì sơ đồ chỉ là tranh minh hoạ.

Thành phầnBiểu diễnDữ liệu ghi kèm
Khách hàng và nhà cung cấpHình nhà xưởng ở hai góc trênNhu cầu ngày hoặc tháng, số chủng loại, tần suất giao
Công đoạnHộp chữ nhật, một hộp cho một khu vực có dòng liên tụcThời gian chu kỳ (C/T), thời gian chuyển đổi (C/O), tỷ lệ máy sẵn sàng, số người, số ca, tỷ lệ phế phẩm
Tồn khoTam giác giữa các công đoạnSố lượng đếm thực tế, quy ra số ngày nhu cầu
Dòng vật tưMũi tên đẩy (công đoạn trước làm theo lịch rồi đẩy sang) hoặc siêu thị và kéoKích thước lô, cách vận chuyển
Dòng thông tinĐường mảnh từ bộ phận kế hoạch tới các công đoạn; đường điện tử dạng tia chớpTần suất: dự báo tháng, lịch tuần, chỉ thị ngày
Đường thời gianDải bậc thang ở đáy sơ đồBậc trên: số ngày chờ; bậc dưới: thời gian gia công từng công đoạn

Số liệu nên lấy bằng quan sát trực tiếp trong cùng một khoảng thời gian ngắn, ví dụ đếm tồn kho của cả dòng trong một buổi sáng, thay vì lấy từ hệ thống ERP. Số trong hệ thống thường lệch với thực tế hiện trường, và chính độ lệch đó cũng là thông tin.

Vẽ sơ đồ hiện trạng từng bước

Một nhóm nhỏ ba đến năm người, có quản lý cấp đủ cao để thay đổi được dòng chảy, thường vẽ xong hiện trạng của một họ sản phẩm trong một đến hai ngày.

  1. Đi nhanh một lượt toàn dòng từ kho thành phẩm ngược về nhận vật tư, để có hình dung tổng thể trước khi ghi số.
  2. Đi lại lần hai, bắt đầu từ khâu giao hàng và đi ngược dòng. Đi ngược giúp nhìn mỗi công đoạn từ góc khách hàng nội bộ của nó: công đoạn sau cần gì, khi nào.
  3. Ghi dữ liệu từng công đoạn bằng bấm giờ thực tế, không dùng định mức trên giấy. Đếm tồn kho trước và sau mỗi công đoạn.
  4. Vẽ khách hàng và nhu cầu ở góc trên bên phải, nhà cung cấp ở góc trên bên trái, bộ phận kế hoạch ở giữa.
  5. Vẽ dòng thông tin: đơn hàng vào bằng cách nào, kế hoạch phát lịch cho công đoạn nào, có bao nhiêu điểm được lập lịch riêng. Nhiều điểm lập lịch thường là nguồn gốc của tồn kho chồng chất.
  6. Quy tồn kho ra số ngày bằng cách chia cho nhu cầu ngày của khách, rồi vẽ đường thời gian và cộng tổng.
  7. Vẽ bằng bút chì trên giấy khổ lớn tại hiện trường. Vẽ tay buộc nhóm tập trung vào dòng chảy thay vì làm đẹp sơ đồ trên phần mềm.

Đọc chỉ số: lead time, định luật Little và hiệu suất chu trình

Con số quan trọng nhất trên VSM là thời gian chờ toàn trình (lead time): tổng số ngày một sản phẩm nằm trong hệ thống. Cách tính trên VSM dựa vào một quan hệ cơ bản của lý thuyết hàng đợi, định luật Little, được John Little chứng minh chặt chẽ năm 1961: trong hệ thống ổn định, số lượng bán thành phẩm trung bình = tốc độ ra trung bình × thời gian nằm trong hệ thống trung bình. Đảo lại: thời gian chờ bằng tồn kho chia cho tốc độ ra. Vì vậy 3.000 chi tiết nằm chờ trước công đoạn hàn, khi khách lấy 1.000 chi tiết mỗi ngày, tương đương ba ngày chờ.

Ví dụ giả định: một xưởng đồ gỗ có sáu công đoạn, tổng thời gian gia công của một sản phẩm là 41 phút. Tồn kho giữa các công đoạn cộng lại tương đương 18 ngày nhu cầu, cộng 7 ngày nguyên liệu và 5 ngày thành phẩm, lead time khoảng 30 ngày. Tỷ lệ thời gian tạo giá trị trên lead time, đôi khi gọi là hiệu suất chu trình (process cycle efficiency), chưa tới 0,2% nếu tính theo giờ làm việc. Con số rất nhỏ như vậy là bình thường ở lần vẽ đầu và chỉ ra rằng đòn bẩy lớn nằm ở giảm chờ, không phải ở làm thao tác nhanh hơn.

Chỉ số thứ hai là so thời gian chu kỳ của từng công đoạn với nhịp takt. Takt bằng thời gian làm việc khả dụng chia cho nhu cầu khách hàng trong cùng khoảng. Ví dụ giả định: 27.000 giây làm việc mỗi ngày, khách cần 450 sản phẩm, takt là 60 giây. Công đoạn có chu kỳ lớn hơn takt là điểm nghẽn; công đoạn nhỏ hơn takt nhiều là chỗ thừa năng lực có thể gộp việc.

Chỉ số thứ ba là thời gian chuyển đổi và kích thước lô. Công đoạn chuyển đổi mất hai giờ sẽ có xu hướng chạy lô lớn, đẩy tồn kho ra sau. Đây là chỗ VSM nối sang các công cụ như giảm thời gian chuyển đổi.

Thiết kế trạng thái tương lai: tám câu hỏi

1. Takt của họ sản phẩm này là bao nhiêu? Mọi thiết kế bắt đầu từ nhịp nhu cầu của khách, không từ năng lực máy.

2. Sản xuất thẳng vào kho thành phẩm, hay giao thẳng theo đơn? Phụ thuộc thời gian khách sẵn sàng chờ so với lead time của mình và độ ổn định của nhu cầu.

3. Ở đâu làm được dòng chảy liên tục? Các công đoạn có chu kỳ tương tự và gần nhau nên gộp thành một ô sản xuất, chuyển từng chiếc hoặc từng lô nhỏ, bỏ kho ở giữa.

4. Ở đâu phải dùng siêu thị và kéo? Khi hai công đoạn không thể nối liền, vì một bên phục vụ nhiều dòng, chuyển đổi lâu hoặc ở xa, đặt một siêu thị có mức tồn kiểm soát; công đoạn trước chỉ làm bù lại phần đã bị lấy đi.

5. Công đoạn nào là điểm lập lịch duy nhất (pacemaker)? Trạng thái tương lai tốt chỉ phát lịch cho một điểm, thường là công đoạn gần khách nhất; các công đoạn trước được kéo theo. Bớt điểm lập lịch là bớt nguồn tồn kho.

6. Làm sao san đều chủng loại tại điểm lập lịch? San đều (heijunka) nghĩa là xen kẽ các mã hàng thành lô nhỏ thay vì chạy cả tuần một mã, đổi lại cần chuyển đổi nhanh.

7. Phát lệnh sản xuất theo bước nhỏ nào? Nhịp phát lệnh (pitch), ví dụ mỗi 30 phút một lần, giúp phát hiện chậm trễ trong ca thay vì cuối tuần.

8. Cần những cải tiến gì để đạt thiết kế trên? Liệt kê cụ thể: giảm chuyển đổi ở máy dập, tăng tỷ lệ sẵn sàng của lò sấy, gộp hai công đoạn. Mỗi cải tiến thành một dự án có chủ, đánh dấu bằng biểu tượng tia sáng trên sơ đồ tương lai.

VSM cho văn phòng, dịch vụ và các bẫy hay gặp

VSM dùng tốt cho quy trình văn phòng: xử lý hồ sơ vay, cấp mã khách hàng mới, thanh toán nhà cung cấp, tiếp nhận người bệnh. “Tồn kho” là số hồ sơ đang chờ ở mỗi bàn, “thời gian chu kỳ” là thời gian xử lý thực sự một hồ sơ. Hai chỉ số đặc thù của văn phòng là tỷ lệ hồ sơ đầy đủ chính xác ngay lần đầu tại mỗi bước (nhiều sơ đồ dịch vụ ghi là %C&A) và số lần chuyển tay. Ở dịch vụ, nhiều bước có thời gian xử lý vài phút nhưng thời gian chờ vài ngày vì hồ sơ đi qua hàng đợi chung của người phê duyệt.

Bẫy thứ nhất là vẽ xong rồi cất: VSM chỉ có giá trị khi kèm kế hoạch thực hiện trạng thái tương lai, có chủ và có lịch xem lại hằng tháng. Bẫy thứ hai là vẽ trong phòng họp từ trí nhớ, ra sơ đồ của quy trình như người ta tưởng. Bẫy thứ ba là vẽ quá chi tiết, biến VSM thành lưu đồ nhiều trang và mất khả năng nhìn tổng thể. Bẫy thứ tư là thiết kế trạng thái tương lai không khả thi, chẳng hạn chuyển từng chiếc ở công đoạn chuyển đổi mất ba giờ; nên thiết kế tương lai cho sáu đến mười hai tháng tới, đạt được rồi vẽ lại.

Cuối cùng, VSM là công cụ của quản lý tuyến, không phải của chuyên gia. Người chịu trách nhiệm cả dòng giá trị (trong tài liệu Lean gọi là người quản lý dòng giá trị) nên trực tiếp vẽ, vì quá trình đi bộ, đếm, bấm giờ mới là lúc người ta thực sự nhìn thấy hệ thống của mình.

Câu hỏi thường gặp

Có nên dùng phần mềm để vẽ VSM không?

Phần mềm tiện cho việc lưu trữ, chia sẻ và cập nhật bản sạch. Nhưng lần đầu nên vẽ tay tại hiện trường, vì mục tiêu là học cách nhìn hệ thống chứ không phải làm ra bản vẽ đẹp. Khi đã có sơ đồ giấy được nhóm thống nhất, có thể chuyển sang phần mềm.

Một nhà máy có hàng trăm mã sản phẩm thì vẽ VSM thế nào?

Gom sản phẩm thành họ theo lộ trình công đoạn giống nhau bằng ma trận sản phẩm và công đoạn, sau đó chọn họ quan trọng nhất để vẽ. Thường chỉ cần vài sơ đồ để bao phần lớn sản lượng. Không cố vẽ mọi mã trên một trang.

VSM có cần số liệu chính xác tuyệt đối không?

Không. Mục đích là thấy độ lớn tương đối: chờ vài ngày hay vài tuần, công đoạn nào gần takt. Sai số mười đến hai mươi phần trăm hiếm khi đổi kết luận. Quan trọng hơn là số được lấy từ quan sát thực, cùng một thời điểm, theo cùng định nghĩa.

Bao lâu nên vẽ lại sơ đồ hiện trạng?

Khi trạng thái tương lai đã đạt phần lớn, thường sau sáu đến mười hai tháng, sơ đồ tương lai cũ trở thành hiện trạng mới và nhóm vẽ một trạng thái tương lai tiếp theo. Cũng nên vẽ lại khi nhu cầu hoặc danh mục sản phẩm thay đổi lớn.

VSM có liên quan gì tới chuỗi giá trị của Porter không?

Tên gọi gần nhau nhưng khác cấp độ. Chuỗi giá trị của Porter là khung chiến lược phân tích các hoạt động tạo lợi thế cạnh tranh của cả doanh nghiệp. VSM là công cụ vận hành theo dấu dòng vật tư và thông tin của một họ sản phẩm cụ thể, đo bằng phút và ngày.

Có thể vẽ VSM vượt ra ngoài nhà máy, tới nhà cung cấp và khách hàng không?

Có, gọi là VSM mở rộng hay sơ đồ dòng giá trị liên doanh nghiệp. Nó thường cho thấy tồn kho chồng ở cả hai phía ranh giới công ty và các lớp dự báo bị khuếch đại. Nên làm sau khi đã thành thạo VSM trong nội bộ và có quan hệ đủ tin cậy với đối tác để chia sẻ số liệu.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.